• 7

Phản ứng sớm sau xạ trị:
Các tác dụng phụ cấp tính sẽ hết trong vòng 4–6 tuần, thường không cần điều trị, nhưng
kem dưỡng ẩm và các sản phẩm thay thế xà phòng có thể hữu ích.

Các phản ứng bao gồm:
• Da đỏ, khô và phù nhẹ (giống như cháy nắng).
• Phù nề, hồng ban rõ rệt và bong tróc da dạng ẩm.
• Bóng nước, loét và đóng vảy xuất huyết (ít gặp vì liều lượng xạ trị được kiểm soát chính
xác hơn so với trước đây).
• Tăng sắc tố (thường gặp hơn ở da sẫm màu).
• Rụng tóc.

Phản ứng muộn sau xạ trị:
Các phản ứng muộn sau xạ trị có thể xuất hiện nhiều năm sau xạ trị, và những thay đổi
tiến triển dần dần. Các phản ứng bao gồm:
• Giãn mạch, giảm và tăng sắc tố.
• Teo và yếu lớp biểu bì.
• Hoại tử dẫn đến loét (có thể mô phỏng biểu hiện ác tính).
• Xơ hóa da và mô dưới da (trong vòng 3 tháng đầu).

Các bệnh da liễu toàn thân do xạ trị:
• Herpes zoster.
• Hồng ban đa dạng
• Các bệnh bóng nước tự miễn (bullous pemphigoid, pemphigus).

Các bệnh về da do xạ trị nhưng khu trú tại vùng bức xạ:
• Các thay đổi về da sau xạ trị gây đau nhiều hơn khi ảnh hưởng đến vú, so với các vị trí
khác.
• Tổn thương dạng mụn trứng cá kèm mụn đầu đen.
• Phản ứng dạng lichen, ví dụ như Hồng ban đa dạng, bệnh ghép chống ký chủ, lichen
planus.
• Bullous pemphigoid.
• Phản ứng xơ hóa:
o Morphoea: khởi phát đột ngột với hồng ban từ 1 tháng đến 3 năm sau xạ trị.
Thường ảnh hưởng đến vú. Điều trị không hiệu quả lắm, nhưng corticosteroid tại
chỗ, tiêm trong tổn thương và uống đã được khuyến cáo.
o Lichen xơ hóa.
o Viêm mô mỡ giả xơ cứng bì sau xạ trị từ 1–8 tháng sau xạ trị cường độ cao
(xuyên thấu sâu). Thường ảnh hưởng đến vú. Có thể giống bệnh di căn. Có thể tự
khỏi.
• Bệnh lý mạch máu với xơ hóa, xơ vữa động mạch và vỡ mạch.
• Bệnh ác tính, ví dụ: BCC, SCC.
• Viêm da do xạ trị.
• Tổn thương mạch máu liên quan đến xạ trị—phạm vi hình thái từ tổn thương mạch máu
không điển hình đến u mạch máu dưới da—thường xảy ra sau ung thư biểu mô tuyến vú.

Call Now Button